Lễ khai giảng của các hoàng tử xưa diễn ra như thế nào?

Google News

Trước khi vào học, hoàng tử và các giảng quan phải mặc mũ áo đại triều, đến giữa giảng đường có đặt bàn thờ Khổng Tử làm lễ khai giảng.

Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho thành lập Văn Miếu. Đến năm 1076, vua Lý Nhân Tông lại cho lập Quốc Tử Giám, trường học chính thức ở Việt Nam, nền giáo dục của nước ta bắt đầu từ đó.
Lễ khai giảng đơn giản
Sách Đại Nam hội điển sự lệ của triều Nguyễn ghi lại quy định của triều đình đối với lễ khai giảng năm học của các hoàng tử.
Trước khi vào học, hoàng tử và các giảng quan phải mặc mũ áo đại triều đến giữa giảng đường có đặt bàn thờ Khổng Tử làm lễ khai giảng. Tiếp đó, hoàng tử kính cẩn lễ lạy các thầy của mình bốn lạy và các thầy cũng lạy đáp lễ bốn lần. Sau đó, tất cả thay thường phục để bắt đầu học tập.
Việc học tập kéo dài cả ngày, bắt đầu từ sáng sớm và kéo dài đến khi Mặt Trời lặn. Vào ngày lẻ, các hoàng tử sẽ được giảng Ngũ Kinh, ngày chẵn giảng Tứ Thư.
 Văn Miếu - Quốc Tử Giám là trường đại học đầu tiên của nước ta. Ảnh: Lê Hiếu.Thầy giáo ngày xưa được đào tạo thế nào?
Trong đó, Tứ Thư, Ngũ Kinh thì đến ngày học kế tiếp phải thuộc lòng chính văn, thuộc kỹ Chư sử và Tính lý thì phải thông suốt, còn sử thì không cần học thuộc, chỉ cần nắm được ý chính.
Hàng tháng vào những ngày 30, mùng một các hoàng tử được nghỉ học. Những buổi chiều ngày mùng 6, 16, 26 phải đem sách học vào chầu ở điện Quang Minh để vua hỏi lại.
Dưới thời phong kiến, nhiều thầy giáo giỏi được mời dạy các hoàng tử, con quan. Nhiều người lại thành danh khi dạy học ở quê nhà.
Vậy, thầy giáo ngày xưa được đào tạo như thế nào? Họ gồm những ai? Theo những tư liệu lịch sử còn lưu lại đến ngày nay, suốt hàng nghìn năm dưới chế độ phong kiến, nước ta chưa có trường chuyên đào tạo về sư phạm.
Thầy giáo là những người tinh thông Nho học, tự mở trường dạy học sinh về chữ Nho và triết lý Khổng Tử. Có người đỗ đạt nhưng không ra làm quan, mà ở nhà mở trường dạy học. Tiêu biểu trong số này phải kể tới thầy Chu Văn An.
Ông từng thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ) dưới thời Trần, nhưng không ra làm quan, mà ở nhà mở trường tư thục dạy học ở gần bờ sông Tô Lịch (Hà Nội). Nổi tiếng bởi tài năng và đức hạnh, danh tiếng vang xa, học trò theo thầy rất đông.
Sau này, dưới thời vua Trần Minh Tông (1300-1357), thầy Chu được mời ra làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám (hiệu trưởng), trực tiếp dạy học cho các hoàng tử, thái tử, con em quan lại cao cấp của nhà Trần.
Có thể khẳng định Chu Văn An chính là nhà giáo tiêu biểu, thành công nhất của nước ta trong thời phong kiến. Học trò của ông có rất nhiều người đỗ đạt cao, đảm nhận những chức vụ chủ chốt của triều đình như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát… Ông trở thành hình mẫu cho các nhà sư phạm sau này.
Nhiều nhà giáo danh tiếng của nước ta thời phong kiến vốn xuất thân là những trạng nguyên, tiến sĩ. Sau nhiều năm lăn lộn trên quan trường, vì lý do nào đó, họ từ quan về quê mở trường dạy học. Tiêu biểu trong số này phải kể đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà bác học Lê Quý Đôn, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp…
Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) là nhà văn hóa nổi bật nhất của nước ta vào thế kỷ XVI. Sau nhiều năm lăn lộn trên quan trường, ông quy ẩn tại quê nhà, dựng am Bạch Vân, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, lập quán Trung Tân, làm cầu Nghinh Phong, Trường Xuân cho dân qua lại. Ông mở trường dạy học cạnh sông Tuyết (còn có tên là sông Hàn).
Về sau, các môn sinh tôn ông là "Tuyết Giang phu tử". Học trò của ông có nhiều người hiển đạt sau này như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Hàn Giang cư sĩ Nguyễn Văn Chính (con trai cả của ông).
Giống như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn cũng là tri thức lớn bậc nhất của nước ta trong thế kỷ XVIII. Sau khi đỗ đại khoa, ông vừa làm quan, vừa dạy học.
Thầy Lê Quý Đôn nổi tiếng là nhà bác học của thời đại bấy giờ, luôn nêu cao tấm gương hiếu học. Sử gia Phan Huy Chú từng viết trong Lịch triều hiến chương loại chí rằng: “Ông có tư chất khác đời, thông minh hơn người mà giữ tính nết thuần hậu, lại chăm học không biết mỏi. Tuy đỗ đạt vinh hiển, tay vẫn không rời quyển sách”.
La sơn phu tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) cũng là một trong những nhà sư phạm tiêu biểu nhất của nước ta. Ông là trí thức nức tiếng ở thế kỷ XVIII, nổi tiếng về học vấn uyên thâm và đức độ. Ông từng ba lần được vua Quang Trung mời ra giúp nước, nhưng đều từ chối.
Hàng thế kỷ trôi qua, danh tiếng của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp vẫn mãi được kính trọng. Ông vừa là tấm gương hiếu học, vừa là người thầy danh tiếng, đã có công đào tạo được nhiều học trò xuất sắc.
Theo Nguyễn Thanh Điệp/ Zing