Đất vàng 69 Nguyễn Du vào tay tư nhân: Ai phải chịu trách nhiệm?

Hải Ninh -

(Kiến Thức) - TTCP khẳng định trách nhiệm để xảy ra những sai phạm chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại 69 Nguyễn Du thuộc về PVC, PVN, UBND TP Hà Nội, Bộ Tài chính và cơ quan, đơn vị, cá nhân.

Thu hồi “đất vàng” 69 Nguyễn Du do chuyển nhượng sai
Mới đây, UBND TP Hà Nội đã có văn bản về việc thực hiện kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ và chỉ đạo của Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ liên quan đến việc chuyển nhượng cơ sở nhà đất tại 69 Nguyễn Du, quận Hai Bà Trưng.
Theo đó, UBND TP Hà Nội giao Sở TN&MT phối hợp cùng Sở Xây dựng và các đơn vị liên quan rà soát, trình UBND thành phố thu hồi các quyết định bán nhà, giao đất cho PVC và Công ty Cổ phần Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành tại số 69 Nguyễn Du.
Sở TN&MT có trách nhiệm thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Công ty cổ phần Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành và chỉ đạo Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố tổ chức thu hồi, quản lý diện tích đất tại địa chỉ nêu trên; lập phương án sử dụng đất theo quy định và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, UBND Thành phố.
Dat vang 69 Nguyen Du vao tay tu nhan: Ai phai chiu trach nhiem?
Khu "đất vàng" tại 69 Nguyễn Du. 
Đồng thời, UBND TP Hà Nội cũng giao Sở Tài chính chủ trì cùng các sở, ngành, đơn vị liên quan làm việc, trao đổi thống nhất về thủ tục với Tổng Công ty cổ phần Xây lắp dầu khí (PVC) để hoàn trả toàn bộ số tiền do Tổng công ty đã nộp vào ngân sách Thành phố trong quá trình thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản trên đất tại số 69 Nguyễn Du.
Theo kết luận của Thanh tra Chính phủ, cơ sở nhà, đất tại 69 Nguyễn Du trước đây là biệt thự, có diện tích gần 600m2, trước khi PVC mua theo chỉ định, cơ sở nhà, đất tại số 69 Nguyễn Du là tài sản thuộc sở hữu nhà nước do Công ty Quản lý và Phát triển nhà thuộc Sở Xây dựng Hà Nội quản lý, PVN đã thuê làm văn phòng làm việc.
Đến ngày 1/1/2008, hợp đồng thuê hết hạn, sau đó chưa ký lại. PVC là đơn vị trực thuộc PVN, không liên quan đến cơ sở nhà đất này, nhưng sau thời điểm PVN hết hợp đồng thuê kể trên, PVN, PVC và UBND TP Hà Nội có văn bản gửi Bộ Tài chính trình Phó Thủ tướng cho phép UBND TP. Hà Nội bán chỉ định cơ sở nhà, đất tại số 69 Nguyễn Du cho PVC với lý do đơn vị đang thuê để xây dựng trụ sở làm việc.
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp lại, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước, thẩm quyền quyết định việc bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất này thuộc UBND TP Hà Nội.
"Việc PVC, PVN, UBND TP. Hà Nội có văn bản gửi Bộ Tài chính trình Phó thủ tướng cho phép UBND TP. Hà Nội bán chỉ định cơ sở nhà đất 69 Nguyễn Du cho PVC để xây dựng trụ sở làm việc là không đúng thực tế" – Thanh tra Chính phủ chỉ rõ.
Sau khi mua, PVC không đầu tư xây dựng trụ sở làm việc mà đề xuất và được PVN đồng ý thông qua chủ trương cho phép PVC chuyển nhượng cơ sở nhà đất trên.
Sau đó, PVC thuê Công ty cổ phần Sông Đà Toàn Cầu tư vấn đấu giá, phê duyệt giá khởi điểm và ủy quyền cho Công ty tư vấn bán đấu giá, trong khi UBND TP Hà Nội chưa có quyết định giao đất cho PVC là không đúng quy định của pháp luật về đất đai và đấu giá.
Cũng theo kết luận thanh tra, tháng 12/2009, PVC ký hợp đồng (không số) chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty cổ phần đầu tư và khoáng sản Hợp Thành. 
Ai phải chịu trách nhiệm?
Thanh tra Chính phủ khẳng định trách nhiệm để xảy ra những sai phạm trên thuộc về PVC, PVN, UBND TP Hà Nội, Bộ Tài chính và cơ quan, đơn vị, cá nhân trong việc tham mưu, đề xuất, chỉ đạo và bán tài sản trên đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại 69 Nguyễn Du.
Trao đổi với PV Kiến Thức, luật sư Đặng Văn Cường, Đoàn Luật sư TP Hà Nội cho rằng, vụ việc trên có dấu hiệu tội phạm. Do đó, TTCP đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xem xét sai phạm của một số tổ chức, cá nhân liên quan là có căn cứ.
Kết luận của TTCP như trên rõ ràng một số tổ chức cá nhân đã có sai phạm trong việc bán tài sản nhà nước cho doanh nghiệp. Việc đề xuất bán nhà 69 Nguyễn Du cho doanh nghiệp xây trụ sở không đúng với quy định của luật đất đai, sau đó doanh nghiệp lại không xây dựng trụ sở mà lại bán ra ngoài cho doanh nghiệp tư nhân.
Vụ việc này là nghiêm trọng có thể gây thất thoát tài sản của nhà nước và hợp đồng giữa các bên chưa đảm bảo điều kiện có hiệu lực theo quy định pháp luật. Trong đó trách nhiệm của cơ quan tham mưu là rất rõ ràng, bởi vậy TTCP đã đề nghị hủy bỏ các hợp đồng, quyết định, giao dịch này.
Dat vang 69 Nguyen Du vao tay tu nhan: Ai phai chiu trach nhiem?-Hinh-2
 Luật sư Đặng Văn Cường.
Cơ quan điều tra sẽ làm rõ trong các quyết định phải giao dịch này có dấu hiệu vi phạm như vụ án xảy ra tại Sabeco, TP HCM làm đất vàng rơi vào tay tư nhân hay không để xem xét xử lý về hành vi vi phạm quy định về quản lý tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí; vi phạm về quản lý đất đai gây hậu quả nghiêm trọng; có hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng hay không để có căn cứ xử lý phù hợp với quy định của pháp luật.
Luật sư Cường cho biết, nếu hành vi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm, các cá nhân sai phạm sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trách nhiệm dân sự giữa các bên sẽ giải quyết trong vụ án hình sự.
Trong trường hợp hồ sơ chuyển sang cơ quan điều tra nhưng cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự, không xử lý hình sự đối với các tổ chức, cá nhân có liên quan thì các tổ chức, cá nhân sai phạm vẫn bị xem xét xử lý kỷ luật và phải chịu trách nhiệm pháp lý trong đó có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Trường hợp này thì vụ việc sẽ được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự và thủ tục hành chính. Theo đó tổ chức, cá nhân có lỗi gây thiệt hại đến tài sản của tổ chức, cá nhân khác thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật, mức bồi thường là mức thiệt hại thực tế xảy ra.
Trong chính trường hợp doanh nghiệp bị thu hồi đất, hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng, hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà gây thiệt hại thì bên chuyển nhượng và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải bồi thường thiệt hại cho doanh nghiệp này.
Thiệt hại bao gồm : Các khoản chi phí đã bỏ ra để đầu tư vào đất, các chi phí phát sinh trong việc quản lý, sử dụng đất, tiền chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá thực tế trên thị trường.
Về nguyên tắc khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu thì các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bên nào có lỗi, gây thiệt hại thì phải bồi thường.
Bởi vậy trong trường hợp này, doanh nghiệp đã nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền yêu cầu bên chuyển nhượng phải hoàn lại số tiền đã nhận và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Đối với các tổ chức, cá nhân có quyết định hành chính xâm phạm gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác thì cũng có thể bị bồi thường theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
“Đây là giao dịch có giá trị rất lớn, hợp đồng đã được ký kết và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp. Về mặt pháp lý thì quyền sử dụng đất đã chuyển giao từ chủ thể chuyển nhượng sang chủ thể nhận chuyển nhượng, giá trị tài sản rất lớn. Bởi vậy, để giải quyết vụ việc này cơ quan chức năng cần hết sức thận trọng trong việc đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của các bên theo quy định pháp luật” – luật sư Cường nêu ý kiến.
Tháng 8/2009, UBND thành phố Hà Nội có Văn bản số 8086/UBND-KT xác định giá bán tài sản trên đất, giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại số 69 Nguyễn Du là 39,868 tỷ đồng.
Sau khi, PVC nộp tiền, ngày 17/11/2009, UBND thành phố có Quyết định số 6031/QĐ-UBND thu hồi đất tại số 69 Nguyễn Du giao cho PVC. PVC tổ chức bán đấu giá quyền sử dụng đất cơ sở 69 Nguyễn Du.
Ngày 31/12/2009, PVC ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần Đầu tư và Khoáng sản Hợp Thành với giá trị 95,949 tỷ đồng.
Ngày 20/4/2016, UBND thành phố có Quyết định số 1860/QĐ-UBND thu hồi đất tại số 69 Nguyễn Du giao cho Công ty Cổ phần Đầu tư và khoáng sản Hợp Thành để cải tạo xây dựng Toà nhà văn phòng 69 Nguyễn Du.
Sau khi phát hiện hàng loạt sai phạm liên quan đến quá trình chuyển nhượng đất, Thanh tra Chính phủ đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ giao UBND thành phố Hà Nội phối hợp với PVN rà soát để thu hồi và xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình thu hồi cơ sở nhà đất này.
Đến thời điểm 31/10/2020 chưa thực hiện được việc thu hồi thì chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật.